Ở lưu vực sông Hồng, khảo cổ học đã dựng được một chuỗi bốn văn hoá nối tiếp nhau: Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun rồi Đông Sơn. Đi dọc chuỗi ấy, đồ đồng từ chỗ chỉ là vài mẩu nhỏ hiếm hoi trở thành vật dụng phổ biến, làng mạc đông đúc hơn, và xã hội có dấu hiệu phân tầng rõ dần. Ba văn hoá đầu thường được gọi chung là giai đoạn tiền Đông Sơn.
Chào bạn, đây là Nhà Khảo Cổ. Trống đồng Đông Sơn thì ai cũng biết. Hôm nay mình kể về con đường dài hàng nghìn năm dẫn tới nó, mà ít người để ý.
Phùng Nguyên: bình minh của thời kim khí
Văn hoá Phùng Nguyên được đặt tên theo di chỉ ở vùng Lâm Thao, Phú Thọ, phát hiện cuối những năm năm mươi của thế kỷ hai mươi. Nó thường được xếp vào khoảng bốn nghìn năm trước.
Nét nổi bật của Phùng Nguyên là đồ đá mài rất tinh xảo: rìu, bôn mài nhẵn toàn thân, vòng tay, khuyên tai bằng đá ngọc mài mỏng, có chiếc tròn đều như tiện. Gốm Phùng Nguyên đẹp, trang trí bằng những hoa văn khắc vạch kết hợp in chấm, uốn lượn rất có nhịp điệu.
Dấu vết đồng ở Phùng Nguyên còn rất ít, chủ yếu là những mẩu đồng nhỏ, xỉ đồng. Nhưng chừng ấy đủ để cho thấy con người đã bắt đầu biết tới kim loại.
Người Phùng Nguyên sống trên những gò đồi trung du và rìa đồng bằng, làm nông nghiệp, có lẽ đã trồng lúa. Các làng của họ là những điểm cư trú định cư lâu dài.
Đồng Đậu và Gò Mun: đồng thau nhiều dần
Văn hoá Đồng Đậu, đặt tên theo di chỉ ở vùng Yên Lạc thuộc tỉnh Vĩnh Phúc trước đây, nối tiếp Phùng Nguyên. Ở đây, đồ đồng xuất hiện nhiều hơn: mũi tên, lưỡi câu, rìu, dùi, cùng với khuôn đúc bằng đá, chứng tỏ người ta đã tự đúc đồng tại chỗ.
Gốm Đồng Đậu vẫn có hoa văn khắc vạch nhưng kiểu dáng và cách trang trí thay đổi, giúp nhà khảo cổ phân biệt với Phùng Nguyên.
Văn hoá Gò Mun, đặt tên theo di chỉ ở Phú Thọ, là bước tiếp theo. Đến đây, đồ đồng chiếm phần lớn trong số công cụ và vũ khí, đồ đá giảm hẳn. Rìu, giáo, dao, mũi tên bằng đồng phổ biến.
Đi qua ba giai đoạn này giống như xem một thước phim quay chậm: đá lùi dần, đồng tiến lên, kỹ thuật ngày càng thành thạo.
Đông Sơn: đỉnh cao của đồ đồng
Văn hoá Đông Sơn được đặt tên theo làng Đông Sơn bên bờ sông Mã ở Thanh Hoá, nơi người dân phát hiện đồ đồng và các cuộc khai quật được tiến hành từ những năm hai mươi của thế kỷ hai mươi. Nó trải rộng khắp đồng bằng và trung du Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, kéo dài tới những thế kỷ đầu công nguyên.
Đông Sơn nổi tiếng với trống đồng, thạp đồng, nhưng đời sống thường ngày còn có lưỡi cày, rìu, giáo, dao găm, đồ trang sức đồng. Đồ sắt cũng bắt đầu xuất hiện ở giai đoạn muộn.
Mật độ di chỉ dày, có những khu mộ lớn, có sự chênh lệch rõ giữa mộ nhiều đồ và mộ ít đồ. Đó là dấu hiệu của một xã hội đã phân tầng, có thủ lĩnh, có thợ chuyên nghiệp.
Nhiều người gắn văn hoá Đông Sơn với thời Hùng Vương và An Dương Vương trong truyền thuyết. Khảo cổ học cho thấy đây là thời kỳ có một nền văn hoá phát triển rực rỡ, nhưng việc ghép từng di chỉ với từng nhân vật truyền thuyết thì cần hết sức thận trọng.
Chuỗi văn hoá được dựng lên như thế nào?
Chuỗi bốn văn hoá không phải ai đó tự nghĩ ra. Nó được dựng từ địa tầng ở những di chỉ có nhiều lớp, nơi lớp Phùng Nguyên nằm dưới lớp Đồng Đậu, lớp Đồng Đậu nằm dưới lớp Gò Mun. Di chỉ Đồng Đậu là một nơi như vậy, với nhiều lớp chồng lên nhau.
Bên cạnh địa tầng là loại hình học gốm và đồ đồng. Kiểu miệng nồi, kiểu hoa văn, kiểu rìu thay đổi dần qua các lớp, cho phép xếp những di chỉ một lớp vào đúng chỗ trong chuỗi.
Cuối cùng là định tuổi bằng carbon phóng xạ, cho khung niên đại cho từng giai đoạn. Các con số cụ thể vẫn được bàn và điều chỉnh khi có dữ liệu mới.
Chuỗi này là một trong những thành tựu lớn của khảo cổ học Việt Nam nửa sau thế kỷ hai mươi. Nó cho thấy văn hoá Đông Sơn có gốc rễ phát triển lâu dài tại chỗ, chứ không từ trên trời rơi xuống.
Chuỗi gọn gàng ấy có giản lược quá không?
Như mọi sơ đồ, chuỗi bốn văn hoá là một cách giản lược. Thực tế, các giai đoạn không chuyển sang nhau cùng một lúc ở mọi nơi. Có vùng đã sang giai đoạn mới khi vùng khác còn ở giai đoạn cũ.
Các văn hoá cũng không phát triển khép kín. Có trao đổi với vùng xung quanh, với miền Trung, với phương bắc. Kỹ thuật luyện kim đồng ở Đông Nam Á được nhiều nhà nghiên cứu cho là chịu ảnh hưởng từ bên ngoài ở giai đoạn đầu, rồi phát triển theo cách riêng.
Ở các vùng khác như sông Mã, sông Cả, cũng có những chuỗi văn hoá riêng, liên quan nhưng không trùng với chuỗi sông Hồng.
Hiểu chuỗi như một dòng chảy chính có nhiều nhánh phụ sẽ đúng hơn là một cái thang bốn bậc. Lần tới nhìn tủ kính xếp gốm theo thời kỳ ở bảo tàng, bạn thử tìm xem hoa văn đã đổi thế nào từ trái sang phải nhé.
Câu hỏi thường gặp
Tiền Đông Sơn là gì?
Tiền Đông Sơn là cách gọi chung các văn hoá Phùng Nguyên, Đồng Đậu và Gò Mun, những giai đoạn phát triển trước và dẫn tới văn hoá Đông Sơn ở lưu vực sông Hồng.
Văn hoá Phùng Nguyên đã có đồ đồng chưa?
Đã có dấu vết đồng nhưng rất ít, chủ yếu là mẩu đồng và xỉ đồng nhỏ. Công cụ chính vẫn là đá mài rất tinh xảo.
Đồng thau là gì?
Trong khảo cổ Việt Nam, đồng thau thường chỉ hợp kim đồng với thiếc, có khi thêm chì. Hợp kim này cứng hơn đồng nguyên chất và dễ đúc hơn.
Văn hoá Đông Sơn có phải chỉ ở Thanh Hoá không?
Không. Tên gọi lấy từ làng Đông Sơn ở Thanh Hoá, nhưng văn hoá này phân bố rộng khắp Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, với các vùng có những sắc thái riêng.
Có thể xem hiện vật của chuỗi văn hoá này ở đâu?
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia ở Hà Nội và bảo tàng các tỉnh Phú Thọ, Thanh Hoá đều có trưng bày hiện vật thời đồng thau. Nên hỏi trước để biết khu trưng bày đang mở.