Văn hoá Bắc Sơn là văn hoá của những cư dân sống trong hang và mái đá vùng núi đá vôi phía Bắc, đặt tên theo vùng Bắc Sơn ở Lạng Sơn, nổi tiếng với những chiếc rìu được mài nhẵn phần lưỡi và những hòn đá có vết rãnh mài gọi là dấu Bắc Sơn. Ở giai đoạn này, đồ gốm cũng bắt đầu xuất hiện trong các lớp đất. Bắc Sơn thường được xem là bước nối tiếp văn hoá Hoà Bình.
Chào bạn, đây là Nhà Khảo Cổ. Một nhát mài tưởng nhỏ nhưng đã thay đổi cách con người làm việc với gỗ và đất. Hôm nay mình kể chuyện chiếc rìu mài.
Vì sao mài lưỡi rìu lại là bước tiến lớn?
Một công cụ ghè có lưỡi sắc nhưng răng cưa, giòn, dễ mẻ. Khi đem lưỡi ấy cọ trên một phiến đá cát với nước, người thợ tạo ra một lưỡi nhẵn, đều và bền hơn hẳn. Lưỡi mài ít bị mẻ khi chặt vào gỗ, và khi cùn thì mài lại được.
Mài tốn công hơn ghè rất nhiều, có khi hàng giờ cho một chiếc rìu. Việc người ta chịu bỏ công như vậy cho thấy công cụ được dùng lâu dài, giữ gìn, chứ không dùng xong là bỏ.
Rìu mài đặc biệt hợp với việc chặt cây, đẽo gỗ. Nó gắn với những đổi thay lớn: phát rừng, dựng nhà kiên cố hơn, làm thuyền độc mộc. Đó là lý do người ta coi kỹ thuật mài là một trong những dấu hiệu của thời đá mới.
Ở Bắc Sơn, phần lớn rìu chỉ được mài ở lưỡi, thân vẫn giữ vết ghè. Ở những văn hoá muộn hơn, rìu được mài toàn thân, có vai, có nấc, ngày càng tinh xảo.
Dấu Bắc Sơn: những vết rãnh bí ẩn
Trong các hang Bắc Sơn, người ta tìm thấy nhiều hòn cuội, phiến đá có những rãnh mài dài, sâu, chạy song song hoặc cắt nhau. Giới khảo cổ gọi đó là dấu Bắc Sơn.
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đây là những hòn đá dùng để mài công cụ, có lẽ là mài những vật hình que như mũi nhọn bằng xương, sừng hoặc tre, để lại rãnh theo hình dáng vật được mài.
Cũng có những ý kiến khác, coi một số vết rãnh mang ý nghĩa biểu tượng hay đánh dấu. Mình nghĩ cách nói thật thà nhất là: phần lớn chắc là đá mài, còn những trường hợp đặc biệt thì chưa đủ bằng chứng để nói hơn.
Dấu Bắc Sơn dù sao cũng là một chi tiết đặc trưng, giúp nhận ra văn hoá này ngay cả khi chỉ có ít hiện vật.
Đồ gốm xuất hiện trong hang
Ở các lớp Bắc Sơn, đặc biệt giai đoạn muộn, xuất hiện những mảnh gốm thô, dày, nung ở nhiệt độ thấp, mặt ngoài thường có vết in như dấu đan lưới hay dấu thừng. Đây là một trong những đồ gốm sớm trên đất Việt.
Gốm thay đổi cách nấu ăn. Có nồi chịu lửa, người ta có thể luộc, hầm, nấu cháo, chế biến những thứ trước đó khó ăn như một số loại hạt và củ. Gốm cũng dùng để chứa, để trữ.
Nhiều người nghĩ đồ gốm luôn đi cùng nông nghiệp, nhưng ở nhiều nơi trên thế giới, gốm xuất hiện ở cả những cộng đồng săn hái. Vì vậy thấy gốm trong lớp Bắc Sơn chưa đủ để kết luận người Bắc Sơn đã làm nông.
Câu hỏi người Bắc Sơn có trồng trọt hay chưa vẫn được bàn. Có những ý kiến cho rằng họ đã biết trồng một số loại cây, nhưng bằng chứng trực tiếp như hạt cây trồng cháy còn rất ít.
Ai phát hiện văn hoá Bắc Sơn?
Các hang ở vùng Bắc Sơn được các nhà khảo cổ người Pháp nghiên cứu từ những năm hai mươi của thế kỷ hai mươi, trong đó có Henri Mansuy, người cũng nghiên cứu nhiều di chỉ tiền sử khác ở Đông Dương, và Madeleine Colani.
Ban đầu, nhiều người coi Bắc Sơn và Hoà Bình là hai thứ khác hẳn nhau. Về sau, các nghiên cứu cho thấy nhiều điểm chung, và hai văn hoá được hiểu như hai giai đoạn hoặc hai biến thể có quan hệ gần gũi.
Sau năm một nghìn chín trăm năm mươi tư, các nhà khảo cổ Việt Nam tiếp tục khảo sát, phát hiện thêm nhiều di chỉ Bắc Sơn ở Lạng Sơn, Thái Nguyên, Cao Bằng và các tỉnh lân cận.
Câu chuyện của Bắc Sơn cũng là câu chuyện về cách một khái niệm khảo cổ được sửa đi sửa lại qua gần một thế kỷ.
Từ hang núi xuống đồng bằng
Sau Bắc Sơn, dấu vết con người ở miền Bắc dần xuất hiện nhiều hơn ở ngoài trời, trên các gò đồi, ven sông, ven biển. Những cộng đồng thời đá mới muộn biết làm gốm đẹp hơn, mài rìu toàn thân, và có dấu hiệu canh tác rõ hơn.
Hang động không bị bỏ hẳn, nhưng không còn là nơi ở chính. Có lẽ dân số tăng lên, khí hậu ấm hơn, biển tiến vào, đồng bằng mở ra, tất cả đẩy con người dần ra những vùng đất rộng hơn.
Chiếc rìu mài lưỡi Bắc Sơn vì thế đứng ở một ngưỡng cửa: một chân còn trong hang của người săn hái, một chân hướng ra đồng bằng của người làm ruộng.
Có lẽ chẳng ai trong số những người ngồi mài rìu bên suối ấy biết mình đang làm một việc lớn. Bạn nghĩ xem, trong đời mình, có những thói quen nhỏ nào đang âm thầm thay đổi mọi thứ mà mình chưa nhận ra?
Câu hỏi thường gặp
Dấu Bắc Sơn là gì?
Đó là những vết rãnh mài dài trên hòn cuội hoặc phiến đá tìm thấy trong các di chỉ văn hoá Bắc Sơn. Phần lớn được cho là dấu vết của việc mài công cụ hình que bằng xương, sừng hoặc tre.
Rìu mài khác rìu ghè thế nào?
Rìu ghè có lưỡi tạo bằng các nhát đập, sắc nhưng không đều và dễ mẻ. Rìu mài được cọ trên đá có nước cho lưỡi nhẵn, bền, mài lại được khi cùn.
Bắc Sơn có phải là thời đá mới không?
Bắc Sơn thường được xem là giai đoạn sớm của thời đá mới ở miền Bắc Việt Nam, với rìu mài lưỡi và đồ gốm xuất hiện. Một số nhà nghiên cứu xếp nó vào giai đoạn chuyển tiếp.
Văn hoá Bắc Sơn phân bố ở đâu?
Chủ yếu ở vùng núi đá vôi Việt Bắc như Lạng Sơn, Thái Nguyên, Cao Bằng và các vùng lân cận, trong các hang và mái đá.
Đồ gốm Bắc Sơn trông ra sao?
Đó là gốm thô, dày, nung nhiệt độ thấp, thường có vết in dạng đan hoặc thừng ở mặt ngoài. Gốm thường vỡ vụn nên ít khi còn đủ để biết hình dáng nguyên vẹn.